14:30 | 14/02/2012
Bà Rịa-Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ, tiếp giáp tỉnh Đồng Nai ở phía bắc, Thành phố Hồ Chí Minh ở phía tây, tỉnh Bình Thuận ở phía đông, còn phía nam giáp Biển Đông.


Thành phố Vũng Tàu là tỉnh lỵ của tỉnh 
Bà Rịa-Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa; một năm chia hai mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời gian này có gió mùa Tây Nam. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này có gió mùa Đông Bắc. 
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27 °C, tháng thấp nhất khoảng 24,8 °C, tháng cao nhất khoảng 28,6 °C. Số giờ nắng rất cao, trung bình hàng năm khoảng 2400 giờ. Lượng mưa trung bình 1500 ẩm.

Bà Rịa-Vũng Tàu nằm trong vùng ít có bão. 
Năm 1658, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đưa 2.000 quân đánh thành Mô Xoài của Chân Lạp (thuộc vùng đất Bà Rịa ngày nay). Lý do của cuộc chinh phạt này được Chúa Nguyễn đưa ra là để bảo vệ những cư dân người Việt đã vào đây làm ăn sinh sống. Trận này, Chúa Nguyễn bắt được vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân. Chân Lạp xin được làm chư hầu và triều cống hàng năm. Năm Giáp Tuất, Thái Tông thứ 27 (1674), Chúa Hiền lại sai Nguyễn Dương Lâm và Nguyễn Diên đem quân đánh lũy Bô Tâm của Chân Lạp ở xứ Mô Xoài mà về sau người Việt gọi là Lũy cũ Phước Tứ (vùng thị trấn Long Điền ngày nay).



Tỉnh Bà Rịa được thành lập tháng 12 năm 1899 trên địa bàn phủ Phước Tuy của tỉnh Biên Hòa. 
Tháng 10 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lập tỉnh Phước Tuy gồm địa bàn tỉnh Bà Rịa và quần đảo Hoàng Sa

Từ tháng 3 năm 1963 đến tháng 12 năm 1963 và từ tháng 11 năm 1966 đến tháng 10 năm 1967, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sáp nhập tỉnh Bà Rịa với tỉnh Biên Hòa và tỉnh Long Khánh thành tỉnh Bà Biên. 
Từ tháng 2 năm 1976 sáp nhập vào tỉnh Đồng Nai. 
Từ tháng 5 năm 1979 lập Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo. 
Từ tháng 8 năm 1991 lập tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gồm Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo và một số huyện thuộc tỉnh Đồng Nai vốn thuộc tỉnh Bà Rịa trước kia (Châu Thành, Long Đất và Xuyên Mộc) 
Bà Rịa Vũng Tàu có một thành phố trực thuộc tỉnh, một thị xã và 6 huyện. Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số Bà Rịa-Vũng Tàu là 994.837 người. 
Bà Rịa Vũng Tàu thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hoạt động kinh tế của Tỉnh trước hết phải nói về tiềm năng dầu khí. Trên thềm lục địa Đông Nam Bộ tỉ lệ các mũi khoan thăm dò, tìm kiếm gặp dầu khí khá cao, tại đây đã phát hiện các mỏ dầu có giá trị thương mại lớn như: Bạch Hổ (lớn nhất Việt Nam), Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông. Đương nhiên xuất khẩu dầu đóng góp một phần quan trọng trong GDP của Bà Rịa-Vũng Tàu. 
Kinh tế trên địa bàn đã vượt qua nhiều khó khăn lớn hồi đầu thập kỷ 1990, sớm tạo được thế ổn định và đạt tốc độ phát triển khá; chuyển dịch đúng hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa với cơ cấu công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp. Năng lực sản xuất, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh tăng nhanh. 
Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí, Bà Rịa Vũng Tàu còn là một trong những trung tâm năng lượng, công nghiệp nặng, du lịch, cảng biển của cả nước. Trung tâm điện lực Phú Mỹ và Nhà máy điện Bà Rịa chiếm 40% tổng công suất điện năng của cả nước (trên 4000 MW trên tổng số gần 10.000 MW của cả nước). Công nghiệp nặng có: sản xuất phân đạm urê (800.000 tấn năm), sản xuất polyetylen (100.000 tấn/năm), sản xuất clinker, sản xuất thép (hiện tại có 7 nhà máy đang họat động gồm VinaKyoei, Thép miền Nam ( South Steel), Bluescopes, Thép Việt, Thép Tấm ( Flat Steel), Nhà máy thép SMC và Posco Vietnam đang thi công nhà máy thép cán nguội sẽ đi vào họat động vào năm 2009. Về lĩnh vực cảng biển: kể từ khi chính phủ có chủ trương di dời các cảng tại nội ô Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu trở thành trung tâm cảng biển chính của khu vực Đông Nam bộ. Các cảng lớn tập trung chủ yếu trên sông Thị Vải. Cảng Sài Gòn và Nhà máy Ba Son đang di dời và xây dựng cảng biển lớn tại đây. Sông Thị Vải có luồng sâu đảm bảo cho tàu có tải trọng trên 50.000 tấn cập cảng. Về lĩnh vực du lịch, tỉnh này là một trong những trung tâm du lịch hàng đầu của cả nước. Trong thời gian qua, chính phủ đã cấp phép và đang thẩm định một số dự án du lịch lớn như: Saigon Atlantis (300 triệu USD), Công viên giải trí Bàu Trũng và Bể cá ngầm Nghinh Phong (500 triệu USD), công viên bách thú Safari Xuyên Mộc (200 triệu USD)...Trong năm 2005, GDP đầu người của Bà Rịa-Vũng Tàu đứng đầu cả nước (4000 USD kể cả dầu khí, 2000 USD không kể dầu khí), thu ngân sách năm 2006 dự kiến 65.030 ngàn tỷ đồng (xếp thứ 2 sau Tp Hồ Chí Minh là 67.254 ngàn tỷ đồng). Tuy nhiên mức sống của dân cư nói chung thì xếp sau Tp HCM. Xem thêm Dự toán thu ngân sách năm 2006 của các tỉnh thành Việt Nam


Tỉnh hiện có 8 khu công nghiệp: Đông Xuyên, Phú Mỹ I,Phú Mỹ II, Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A mở rộng, Mỹ Xuân A 2, Mỹ Xuân B1, Cái Mép. Các khu công nghiệp này đã được chính phủ quy hoạch để triển khai đầu tư và xây dựng hạ tầng kỹ thuật cơ bản (như san lấp mặt bằng, làm đường giao thông, điện lực, cấp thoát nước, v.v.). Hiện tại các khu công nghiệp trên có các nhà máy thép, năng lượng tập trung nhiều nhất nước 
Đường bộ: Tỉnh có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh nối các huyện thị với nhau. Quốc lộ 51A (4 làn xe) chạy qua tỉnh dài gần 50 km. Trong 5-7 năm tới sẽ có đường cao tốc Biên Hòa-Vũng Tàu 8 làn xe song song với Quốc lộ 51A. 
Đường sông: Hệ thống các cảng biển như nêu trên. Từ Vũng Tàu có thể đi Tp HCM bằng tàu cánh ngầm. 
Hàng không: Sân bay Vũng Tàu chủ yếu phục vụ cho máy bay trực thăng thăm dò khai thác dầu khí. Trong tương lai, Sân bay Quốc tế Long Thành được xây dựng cách Vũng Tàu 70 km, ranh giới tỉnh khoảng 20 km. 
Đường sắt: hiện tại chưa có đường sắt đến tỉnh. Theo quy hoạch đến năm 2015 của ngành đường sắt, một đường sắt đôi cao tốc khổ rộng 1.435 m sẽ được xây dựng nối Tp HCM và Vũng Tàu, tốc độ thiết kế: trên 300 km/g.


Bãi biển Bà Rịa Vũng Tàu
Bãi sau Vũng Tàu nhìn từ trên núi nhỏ Vũng Tàu có những bãi biển lý tưởng để nghỉ mát mà thiên nhiên đã ban tặng như :
Bãi sau : nằm phía nam Vũng Tàu . còn có tên là Thùy Dương chạy dài gần 10 km.Đây là một trong những bãi biển đẹp của Việt Nam, bãi cát dài và phẳng.
Bãi trước : còn gọi là bãi Tầm Dương do đó có thể ngắm mặt trời lặn vào mỗi buổi chiều.Bãi trước có những hàng dừa chạy dọc theo bờ biển và giống như một vịnh nhỏ ít sóng và có hình vòng cung khá đẹp.
Bãi Dâu: Còn gọi là bãi Phương Thảo , dài 3 km , thơ mộng và tĩnh mịch.
Bãi Dứa : còn gọi là bãi Hương Phong,một bãi tắm nhỏ khá xin xắn ,
Bãi tắm Long Hải .
Thích Ca Phật Đài là một trong những ngôi chùa lớn nhất ở Vũng Tàu. Khu vực chùa rộng 06ha xây dựng trên sườn núi Lớn. Xưa kia, nơi đây là khu rừng rậm hoang vu. Đến năm 1957, có ông quan Phủ, tên là Lê Quang Vinh, đã hồi hưu dựng lên tại đây ngôi Thiền Lâm Tự để làm nơi tu hành cho cả gia đình. Vài năm sau, một nhóm hành hương của Hội Phật Giáo miền nam đến viếng Thiền Lâm Tự và nhận thấy vị trí xung quanh chùa rất lý tưởng để xây dựng thành khu vực tôn thờ Ngọc Xá Lợi cũng như diễn tả lại cuộc đời của Đức Phật Thích Ca. Ngày 20/7/1961 chùa Thích Ca Phật Đài đã được khởi công xây dựng, và được khánh thành trọng thể vào ngày 09/3/1963, kinh phí chùa do phật tử quyên góp. Một Bảo Tháp cao 03m là nơi chứa di cốt của vị sư đầu tiên trụ trì ngôi chùa này, đó chính là ông Phủ Vinh. Phía trên là ngôi Thiền Lâm Tự, là nơi thờ phật chính của Chùa.

TƯỢNG PHẬT ĐẢN SINH

Bên trái ngôi Thiền Lâm Tự là bức tượng " PHẬT ĐẢN SINH". Tượng diễn tả một hài nhi đứng trên tòa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Truyền thuyết kể lại rằng Đức Phật Thái Tử là con vua Ấn Độ Suddhodana Gotama ( Tịnh Phạn Cổ Đàm) được sinh ra vào năm 623 trước Công nguyên dưới bóng mát của vườn cây sala (Long Thọ) đang trổ hoa thơm ngát. Ngay sau khi chào đời Thái Tử bổng vùng đứng dậy và đi bảy bước, cứ mỗi bước của ngài có một bông sen nở ra đỡ lấy bàn chân. Đứng trên toà sen thứ bảy, Thái Tử chỉ một tay lên trời, một tay chỉ dưới đất với ý nghĩa " Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn" (giữa trời và đất thì ta cao nhất). Ngay dưới cổ phía trước ngực của Thái Tử lại có dấu chữ Vạn tỏ rằng ngài là người cao quý siêu nhân. Vì lẽ đó về sau Hoa Sen và dấu chữ vạn được dùng làm biểu tượng của Đạo Phật.

TƯỢNG CẮT TÓC ĐI TU 
Là bức tượng một chàng trai dùng kiếm cắt tóc diễn tả sự tích sau : 
Năm 16 tuổi Thái tử lập gia đình và cuộc sống cứ thế trôi đi êm ả ấy dần dần làm cho Thái Tử cảm thấy nhàm chán, chàng xin phép Vua cha cho đi ngao du ngoài Cung Điện. Bốn lần ra khỏi hoàng thành theo bốn cửa khác nhau càng làm cho Thái Tử thêm ưu phiền tư lự khi trở về. Lần thứ nhất chàng thấy cảnh một hài nhi chào đời. Lần thứ hai thấy cảnh một bà già lụ khụ đi ăn xin. Lần thứ ba thấy cảnh một người bệnh và cuối cùng là cảnh một đám ma. Những cảnh ghép lại giống như một bức tranh toàn cảnh về đời sống con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi ( Sinh, lão, bệnh, tử ). Trái với cuộc sống cao sang của cung điện, đời sống của đa số nhân loại ngoài hoàng thành đắm chìm trong nổi cực khổ để tìm kiếm miếng cơm manh áo và chống trả với bệnh tật, đến khi chết đi vẫn là gánh nặng cho người thân. Điều day đứt này làm nảy sinh trong đầu óc Thái tử một ý chí quyết tâm đi tìm phương cách để giải quyết chúng sinh ra khỏi sự khổ ải và đạt đến sự vĩnh hằng. Vào một đêm mưa to gió lớn, sau khi nhìn lại lần cuối người vợ thân yêu và đứa con trai bé bỏng. Thái tử lặng lẽ trốn ra khỏi Hoàng Cung trên lưng con ngựa Kathala cùng dẫn theo một tên hầu Chana. Đến một khu rừng hoang dã, chàng xuống ngựa dùng kiếm cắt tóc để biểu lộ quyết tâm sắt đá của mình bắt đầu cuộc sống tu hành

 TƯỢNG KIM THÂN PHẬT TỔ
 

Sau những năm nhập vào chốn tu hành, nhà sư Shidharta đã giác ngộ được phương sách giải thoát cho nhân loại và trở thành Phật Thích Ca. Hình tượng Đức Phật Thích Ca thường được diễn tả như tượng Kim Thân Phật Tổ. Bức tượng này được đút bằng xi măng cốt sắt, tượng cao 6m, đặt trên tòa sen cao 4m. 

TƯỢNG VOI KHỈ DÂNG HOA CHO ĐỨC PHẬT

Phía bên phải là tượng voi, khỉ dâng hoa cho Đức Phật để nhắc nhở phật tử luôn đoàn kết theo sự tích sau : 
Trong số những đệ tử kế cận của Đức Phật có hai vị cao tăng thường hay tranh cãi lẫn nhau dần dần dẫn đến hiềm khích. Sau khi giải hòa không được, Đức Phật bèn bỏ vào rừng. Có lẽ thú vật cũng cảm ứng trước giáo pháp của Ngài nên hàng ngày voi và khỉ đều đến dâng quả. Mãi về sau hai nhóm đã hòa đồng và cùng đến với Ngài để tiếp tục nghe giảng đạo. 


TƯỢNG PHẬT NẰM

Qua khỏi vườn Lộc Giả lên cao hơn có bức tượng Phật nằm dài 12m và một số đồ đệ đứng xung quanh. Tượng này diễn tả lúc Đức Phật nhập Niết Bàn ( đi vào nơi thanh cao, vĩnh hằng ). Năm ấy được các đồ đệ của Ngài gọi là Năm Phật lịch thứ nhất tức là năm 544 trước công nguyên.

TÒA NHÀ BÁT GIÁC


Ngay bên phải bức tượng voi, khỉ dâng hoa quả là một tòa nhà hình bát giác tượng trưng cho vườn Lộc Giả, nơi Đức Phật chuyển pháp luân (Giảng đạo). Theo kinh sách thì hai tháng sau khi đắc đạo, Phật Thích Ca đã gặp 05 vị đạo sĩ tại vườn Lộc Giả rồi thu nhận làm độ đệ và truyền dạy lần đầu tiên giáo lý nhà Phật. Dựa theo đó, bên trong ngôi nhà Bát Giác này có xây một bàn thờ ở trên là tượng Phật cùng 05 môn đệ đầu tiên. Chung quanh bệ thờ tám mặt này đều có ghi những lời Phật dạy với nội dung khuyên con người ăn ở đàng hoàng, ngay thẳng, chân thật nên còn gọi là " Bát chánh đạo". Bên trên đỉnh Tòa "Vườn Lộc Giả" có đúc một cây "Đuốc Huệ" với ý nghĩa Đạo Phật sẽ soi sáng trí óc nhân loại. Dưới "Đuốc Huệ" là 12 nấc " Thập nhị nhân duyên" nói lên 12 căn cơ con người sẽ vương mắc trong cuộc đời trần tục, dưới nữa được xây hình bốn mặt tượng trưng cho "Tứ diệu đế" của nguyên lý đạo Phật

BẢO THÁP


Trở lại đường cũ rồi rẽ trái chúng ta sẽ thấy tòa Bảo Tháp, tương truyền là nơi lưu giữ kho cốt của Đức Phật sau khi hỏa táng. Bảo Tháp cao 19m dựng trên nền bát giác rộng lớn, trước Bảo Tháp là bàn thờ và một tấm bia ghi bằng chữ Hán "Nam mô bổ sư Thích Ca mô ni Phật" nghĩa là " Hết lòng tôn kính Phật Thích Ca Mầu Ni là bậc thầy của chúng ta". 
Bốn góc Bảo Tháp có bốn đỉnh chứa đựng đất thiêng thỉnh về từ bốn nơi động tâm của Đức Phật tại Ấn Độ, đó là : 
Lumbini : Nơi ngài sinh ra. 
Uruvela : Nơi thành đạo. 
Isipatana : Nơi truyền đạo. 
Kusinara : Nơi nhập niết bàn. 
Tương truyền trong Bảo Tháp có chứa đựng 13 viên Ngọc Xá Lợi do các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan hiến cúng.


NIẾT BÀN TỊNH XÁ VŨNG TÀU


Chùa " Niết Bàn Tịnh Xá " còn gọi là chùa "Phật Nằm" được xây dựng trên sườn núi nhỏ, hướng mặt ra biển. 
Chùa được khởi công xây dựng từ năm 1969 và khánh thành vào năm 1974 bằng tiền quyên góp của đồng bào phật tử. Thượng Tọa Thích Thiện Huệ đại diện đứng ra lo toan việc xây dựng. Đây là một trong những ngôi chùa đẹp nhất ở Vũng Tàu với những đường nét kiến trúc hiện đại.
Ở phía trước chùa là một cột cờ cao 21m, được chia làm thành 42 bậc biểu tượng cho 42 trang kinh phật đầu tiên được lưu truyền vào Việt Nam vào thế kỷ thứ II. Cổng chùa có 04 chữ "Niết Bàn Tịnh Xá" tức là nơi thanh cao nhất của đạo Phật. 
Hai bên cổng chùa là 02 pho tượng "Thần Thiện" và "Thần Ác". 
Khu điện thờ chính của chùa đựoc bày trí thành một vườn hoa Sa La theo cảnh Đức Phật nhập Niết Bàn. Nổi bật trong khu chánh điện này là bức tượng "Phật Nằm", dài 12m tượng trưng cho"Thập nhị nhân duyên" và được đặt lên bộ thờ 2,5m. Mặt ngoài của bệ thờ có đắp hình tượng các đồ đệ của Phật Thịch Ca đang chứng kiến lúc Ngài nhập điện 
Phía trước chính điện có một chiếc lư đồng lớn với hình tượng bốn con vật Long, Lân, Quy, Phụng gọi chung là "Tứ Linh". Chiếc lư này là kết quả sau hơi hai năm lao động nghệ thuật miệt mài của một nghệ nhân ở tỉnh Bến Tre và đem tặng cho chùa năm 1971. Song song với lư ở hai bên là hai toà tháp cao khoảng 5m. Tòa bên trái có tượng Phật A Di Đà, toà bên phải có tượng Phật Dược Sư. 
Hậu điện dùng làm nơi thờ Phật Thích Ca và các vị tổ có công truyền bá Đạo Phật. Sau tượng Phật Thích Ca có treo một bức tranh vẽ hình " Đạt Ma Sư tổ " là vị cao tăng truyền bá giáo lý nhà Phật. Pho tượng nghìn mắt, nghìn tay biệu tượng thần thông phi thường của nhà Phật. 
Tầng hai có chiếc thuyền rồng còn gọi là Thuyền Bát Nhã, dài 12m. Đó là con thuyền Bát Nhã sẽ cứu vớt mọi người ra khỏi khổ ải rồi đưa đến chốn vĩnh cửu bất diệt. 
Phía sau thuyền Bát Nhã là điện thờ Phật Quan Âm Bồ Tát. Tượng Phật được thể hiện theo hình dáng một phụ nữ hiền hòa đức độ, tay đổ bình nước cam lộ xuống để chữa bệnh cho dân chúng và làm cho cõi trần thêm sạch. 

TƯỢNG CHÚA KITÔ


Theo đường Hạ Long, vòng núi Nhỏ, từ Bãi Trước, qua Bãi Dứa, hoặc theo đường Thùy Vân, lên núi Nhỏ đến Mũi Nghinh Phong, theo một đường bậc thang khá đẹp lên núi Nhỏ để đến thăm Tượng Chúa Ki Tô. 
Tượng Chúa Ki Tô còn được gọi là Tượng Chúa Giang Tay, hoặc thượng Thánh Gioóc được khởI xây dựng từ năm 1972 nhưng công trình bị bỏ dở, bức tượng mới chỉ xong phần xây lắp thô ở bên trong và hoàn thiện về cơ bản ở bên ngoài, đường lên chưa có. 
Do yêu cầu của đồng bào công giáo, và du lịch ngày 28 tháng 1 năm 1992 UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có quyết định cho xây dựng tiếp công trình này. Ngày 02 tháng 12 năm 1994 công trình đã được hoàn tất như hiện nay. 
Tượng Chúa được xây trên đỉnh núi Nhỏ, ở độ cao 136 mét. Tượng đài cao 32 mét, hai cánh tay dang rộng 18,4 mét được đặt trên phần bệ hình khốI có chạm trổ Chúa và 13 tông đồ trên mặt.
Phía trong bụng Tượng Chúa có thể chứa cùng một lúc hàng trăm người theo cầu thang xoắn ốc bằng đá mài 133 bậc từ chân đến tận cổ tượng chúa. Từ đây du khách có thể chui ra hai ống tay Chúa. Mỗi cánh tay cùng một lúc có thể chứa được từ 4 đến 5 người đứng ngắm toàn cảnh thành phố biển Vũng Tàu. Bàn tay tượng dài 2,2 mét. Ngón tay tượng dài 1,1 mét. Bàn chân tượng rộng 1,1 mét. 
Trên đỉnh đầu tượng Chúa có 9 tia sáng hào quang chính là hệ thống thu lôi được nối liền từ tay tượng dẫn xuống hầm hợp chất than, cát, muối để chống sét. 
Dưới chân tượng trong gian phòng rộng có trưng bày những bức tranh, ảnh nói lại quá trình xây dựng tượng đài khổng lồ này. 
Để lên thăm Tượng Chúa Ki Tô bà con giáo dân đã xây dựng xong một con đường dốc bậc thang sạch đẹp, uốn lượn trông xa như Vạn Lý trường thành ở Trung Quốc. 
Tượng Chúa Ki Tô được xây dựng bằng kiến thức khoa học, lối kiến trúc mang tính nghệ thuật văn hóa dân tộc. Được làm bằng bàn tay lao động của con người, không sử dụng cơ giới. 
Cảnh đẹp nơi đây thật là sơn thủy hữu tình, hàng ngày đón hàng trăm du khách thập phuơng kể cả khách quốc tế đến thăm một công trình du lịch mang tính tôn giáo nổi tiếng này. 



HẢI ĐĂNG


Hải Đăng Vũng Tàu có từ năm 1907, lúc đầu đặt ở mỏm núi thấp của núi Nhỏ, thắp bằng dầu. Năm 1911 được xây dựng bằng tháp tròn, đường kính 3 mét, cao 18 mét trên đỉnh Núi Nhỏ như ngày nay. 
Hải Đăng rọi xa được 35 hải lý (1 hải lý bằng 1,85 km), có kính viễn vọng để theo dõi và hướng dẫn tàu thuyền trên biển. 
Dưới chân tháp đèn có bốn cỗ đại bác cổ của Pháp dài trên 10 mét, nặng hàng tấn. Trước kia dùng để bảo vệ khu vực trọng yếu về quân sự và ngăn chặn sự tấn công từ xa của kẻ thù. 
Từ trên tháp Hải Đăng du khách có thể nhìn bao quát toàn bộ thành phố Vũng Tàu. 

NÚI LỚN - BẠCH DINH VŨNG TÀU


Bạch Dinh được Pháp xây dựng từ năm 1898 đến năm 1916, dùng làm nơi nghỉ mát cho Toàn quyền Pháp Paul Doumer và được đặt tên là Villa Blanche theo tên cô con gái yêu của ông ta. Chưa ở đây ngày nào Paul Doumer đã vội vã trở về Pháp tranh cử tổng thống. 
Nghĩa tiếng Việt của “Villa Blanche” lại trùng với dáng sắc bên ngoài của nó nên dân địa phương quen gọi là Bạch Dinh, tức Dinh thự màu trắng. 
Sau nhiều đời toàn quyền Pháp cũng dùng Bạch Dinh làm nơi nghỉ ngơi giải trí nên còn được gọi là “Villa du Gouverneur” (Dinh Toàn Quyền). 
Sau này Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu đều lấy Bạch Dinh làm nơi nghỉ ngơi giảI trí nên Bạch Dinh còn có tên gọi là “Dinh Ông Thượng”. 
Bạch Dinh được xây dựng trên sườn núi Lớn, dọc theo đường Trần Phú, ở độ cao 50m so với mặt nước biển. 
Bạch Dinh mang đậm sắc thái kiến trúc phương tây thời cuối thế kỷ XIX. Mặt ngoài được trang trí những đường hoa văn cổ xưa cùng vớI các hình vẽ và những bức tượng thể hiện chân dung các vị thánh thờI cổ Hy Lạp. 
Bạch Dinh cũng là nơi Thực dân Pháp giam lỏng vua Thành Thái, một ông vua triều Nguyễn có tư tưởng chống thực dân Pháp, (từ 1909 – 1910), trước khi đầy ra đảo Réunion (một hòn đảo ở Châu Phi, thuộc địa của Pháp). 
Phía trước Bạch Dinh là một bao lơn hướng ra biển. Từ đây có thể nhìn bao quát cảnh Bãi Trước Vũng Tàu. Nhìn thẳng xuống chân núi chính là Hòn Hải Ngưu, một mũi đá nhô ra biển có hình dáng như một con trâu đang đầm mình dưới nước. 
Phía trên bờ của Hòn Hải Ngưu trước kia chính là sân bay trực thăng (nay làm đường mới nên di tích sân bay này chỉ còn là bãi đất rộng đậu xe mà thôi), và Hòn Hải Ngưu là nơi câu cá giải trí của các chủ nhân Bạch Dinh trước kia, của dân địa phương và du khách thập phương ngày nay. 
Hiện nay Bạch Dinh còn là nơi trưng bày hàng trăm cổ vật vớt được từ Hòn Cau, Côn Đảo, là điểm du lịch văn hóa thu hút hàng chục, hàng trăm du khách trong và ngoài nước về thăm mỗi ngày. 

NHÀ LỚN LONG SƠN BÀ RỊA VŨNG TÀU


Nhà lớn Long Sơn tại xã đảo Long Sơn, phía tây núi Nứa là hồ nước ngọt Mang Cá, những đầm sen tỏa hương thơm ngát, là một trung tâm văn hóa, tôn giáo của cư dân Long Sơn. Khu di tích và danh thắng này là nơi thu hút khá đông khách du lịch ngay khi chiếc cầu Ba Nanh được xây dựng nối đảo Long Sơn với TP. Vũng Tàu. 
Khu nhà lớn có 3 phần riêng biệt là khu đền thờ: nhà Long Sơn hội, trường học, nhà chợ, nhà mát, nhà bảo tồn ghe sấm, các dãy phố quanh chợ và lăng mộ Ông Trần, người sáng lập ra tín ngưỡng khác lạ pha trộn nhiều đạo giáo khác, không có kinh kệ, chuông mõ, ăn chay… chỉ có những lời dạy truyền khẩu trong dân gian. 
Khu di tích đang lưu giữ nhiều cổ vật quý báu có nguồn gốc nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, chẳng hạn như bộ tủ thờ cẩn xà cừ, chạm khắc tinh xảo gồm 33 cái có nguồn gốc vùng Hà Đông, bộ bàn ghế Bát Tiên tương truyền của vua Thành Thái… 
Bố cục kiến trúc nghệ thuật trang trí thể hiện nét tiêu biểu tín ngưỡng Ông Trần, phá vỡ những nghiêm luật đăng đối đương thời. Hàng năm ở đây có hai lễ hội là ngày “Vía Ông” 20.02 âm lịch (ngày giỗ Ông Trần) và lễ “Trùng Cửu” vào ngày 09.9 âm lịch. Du khách đến đây có thể tìm thấy những điều mới lạ mà người dân nơi đây đã tạo ra theo ý muốn và ước vọng của họ, bổ sung cho kho tàng hiểu biết của mình. 

ĐÌNH THẮNG TAM VŨNG TÀU


Đình Thần Thắng Tam là một biểu hiện đặc sắc của văn hóa ngư dân miền biển Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo truyền ngôn, Đình được xây dựng từ thời vua Minh Mạng (1820 –1840) thờ chung cả ba ngườI đã có công xây dựng nên 3 làng Thắng ở Vũng Tàu. Đến tham quan du khách có thể được nghe về câu chuyện của những con người này đã cùng dân 3 làng Thắng đấu tranh gìn giữ mảnh đất và bảo vệ cuộc sống. 
Kiến trúc nơi đây có cổng tam quan, nhà tiền hiền, ngôi đình chung, hộI trường và sân khấu võ ca với những chạm trỗ hết sức tinh xảo. Ngôi tiền hiền được lợp bằng ngói âm dương, mái ngói có hình “lưỡng long chầu nguyệt”, các cột có chạm trổ hình rồng. Đình hiện còn lưu giữ 12 tấm sắc phong của triều Nguyễn. 
Trong cùng khuôn viên của quần thể kiến trúc này, phía bên phảI là lăng Ông Nam Hải, phía bên trái là miếu Bà Ngũ Hành. Lăng Ông Nam Hải có thờ một bộ xương cá Ông khổng lồ do ngư dân Vũng Tàu vớt được từ hơn 100 năm trước. 
Ngoài những giá trị mang ý nghĩa lịch sử, văn hóa, Đình Thần Thắng Tam còn lưu giữ những lễ hội in đậm văn hóa dân gian và bản sắc dân tộc. Lễ Hội Đình Thần Thắng Tam được tổ chức rất trọng thể vào các ngày 17, 18, 19 và 20 tháng 2 âm lịch hàng năm.


DI TÍCH NHÀ TRÒN
 BÀ RỊA VŨNG TÀU

Di tích nhà tròn nằm ngay trung tâm thị xã Bà Rịa, có hình dáng khá đặc biệt, được xây dựng từ thờI Pháp. Kiến trúc chính là một tháp nước hình tròn có mái che, có chân đỡ tháp nước, phía dướI là nhà làm việc tạo thành một chân đế. Tháp cao 20 mét, có 8 trụ đỡ.Tại đây, ngày 25 tháng 8 năm 1945 cờ Cách mạng đã được treo trên đỉnh tháp, hàng vạn nhân dân khắp nơi trong tỉnh Bà Rịa do Đoàn thanh niên dẫn đầu đã tổ chức mít tinh, tuần hành khởi nghĩa giành chính quyền từ tay Thực dân Pháp và Phong kiến tay sai. 
Và cũng tại đây, ngày 1 tháng 5 năm 1975, Thị ủy Bà Rịa tổ chức mít tinh mừng chiến thắng hoàn toàn giảI phóng miền Nam, thống nhất đất nước hàng vạn ngườI đã về tham dự. 
Hiện nay di tích đã được tôn tạo, và là điểm sinh hoạt văn hoá của Thị xã.


RỪNG SÁC BÀ RỊA VŨNG TÀU


Danh từ Sác tương đương với từ Palétuvier của Pháp để chỉ một nhóm loại cây chỉ mọc được ở những bờ biển đất mới bồi còn quá thấp, nước mặn, nên rừng bị ngập nước quanh năm. Gọi là rừng Trầm Thủy. Loài Sác tuy công dụng ít, cũng như loại cây Mắm không dùng được vào việc gì, nhưng lại quan trọng vô cùng trong việc lấn biển, bồi đất. 
Từ những dòng sông lớn hàng nămđổ ra biển hàng triệu tấn phù sa màu mỡ, đất bồi ấy, bị sống sô ngược lại bờ, và nếu nó bám lại được thì bờ biển sẽ lấn ra biển hàng năm nhiều cây số. Mà nó chỉ lấn được cây Sác mà thôi. 
Giống như rừng mắm, rừng Đước ở miền đồng bằng sông Cửu Long, Rừng Sác hình thành theo hành trình như sau: Đất bồi bị sống biển đánh bật vào bờ, nhưng còn ở dưới mặt biển lắm nơi nằm sâu hai, ba mét, và nhất là không được cầm chân, nghĩa là dễ tan rã. May sao có một loài cây là cây Mắm, mọc được dễ dàng trong điều kiện đó, chen chân nhau mà mọc nhiều như cây lúa trong ruộng. Rễ cây mắm ăn sâu vào bùn, củng cố cái nền đất ngập nước đó và gốc cây mắm được đất bồi dùng làm điểm tựa để mà bám níu tại chỗ. 
Như vậy, nhiều năm sau, trên một dải đất mới bồi dài vô tận và sâu từ bờ biển vào tới đất thịt chắc khoảng 30 km thì mặt đất ở đó dầy dần lên và nhô lên khỏi mặt biển. Bấy giờ thì những loài cây khác, cũng chịu được nước mặn, tuy có kém hơn cây mắm như cây Tràm, cây Dẹt, cây Đước mới lấn mắm mà mọc lên. Trong dân có câu: “Mắm trước Đước sau” là nói lên sự kiên cường lấn biển, bám đất, như hình ảnh người dân Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã kiên cường bám đất giữ làng, một tất không đi, một ly không dời để xứng là thành đồng Tổ Quốc.


NÚI MINH ĐẠM BÀ RỊA VŨNG TÀU


Minh Đạm, tên một dãy núi thuộc địa phận các xã Tam An, Phước Long Hội, Phước Hải và Long Hải của huyện Long Đất. Núi Minh Đạm được tạo bởi nhiều núi có tên gọi riêng đó là Núi Đá Dựng, Hòn Thung, núi Ngang, núi Điện Bà, núi Châu Viên và núi Trương Phi (còn gọi là núi Thùy Vân hay núi Kỳ Vân). Những ngọn núi trên hợp thành dãy Châu Long – Châu Viên. 
Tên gọi Minh Đạm được bắt đầu từ cuối năm 1948, khi tỉnh ủy Bà Rịa quyết định chọn Phước Bửu, Phước Long HộI làm căn cứ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Dãy Châu Viên, Châu Long được gọi là Minh Đạm đó là tên của hai chiến sỹ cách mạng Bùi Công Minh và Mạc Thanh Đạm, là bí thư và phó bí thư huyện ủy Long Điền, hy sinh ngày 17.11.1948. 
Minh Đạm cũng còn là tên gọi của Căn cứ kháng chiến của quân và dân Bà Rịa – Vũng Tàu đã được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử đó là Căn cứ Minh Đạm. 
Căn cứ Minh Đạm gồm bốn khu: Chùa Viên, Đá Chẻ, Chùa Giếng Gạch, Đá Chồng. Các hang trọng yếu, mà du khách cần tham quan đó là: hang Huyện Ủy, hang Huyện Đội, hang Quân Y, hang Thị xã Cấp, hang Quân GiớI (Giếng Gạch), hang Binh Vận, hang B2, hang xã Phước Hải. 
Ngày nay núi Minh Đạm và Căn cứ Minh Đạm đang có sức hấp dẫn đối với du lịch. Nơi đây hàng ngày đã đón tiếp nhiều đoàn khách du lịch đến thăm lại chiến trường xưa và chiêm ngưỡng vẽ đẹp của núi non hùng vĩ và bãi biển Long Hải, Thùy Vân, Kỳ Vân đầy chất thơ. 

NÚI CHÂN TIÊN BÀ RỊA VŨNG TÀU


Từ Bà Rịa theo hướng về Long Hải đi khoảng 3 km sẽ gặp đường Dinh Cố, rẽ trái là đến danh thắng Núi Chân Tiên. 
Danh thắng Núi Chân Tiên thuộc ấp An Lộc, xã An Ngãi, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đường vào thuận lợi, dễ đi, phong cảnh rừng núi khá đẹp. Cây to và thưa, thoáng, dưới tán cây rừng có nhiều tảng đá lớn với nhiều hình thù khác nhau. Từ trong những tảng đá này người ta phát hiện những dấu chân người in sâu đậm trên đá. Ở vách đá phía tay trái của lối vào, trên một quần thể khá đẹp, người ta tìm thấy dấu vết đôi bàn chân giống như chân của một thiếu nữ nhỏ bé xinh xắn, sau khi đến đây vui chơi đã để lại dấu vết một bước nhảy với đủ hai bàn chân ở cự ly phù hợp. 
Đi theo một dốc bậc thang đá lên phía trên. Qua nhiều tảng đá khác và leo lên đỉnh cao nơi có miếu thờ bà “Cửu Thiên Huyền Nữ” (người địa phương gọi là miếu “Mẫu”) sẽ thấy có một bàn chân nhỏ bé xinh xắn rõ nét hơi in đậm và sâu trên vách đá của miếu thờ. Bên dưới bàn chân đó, người dân đã lập một bàn thờ nho nhỏ để thờ cúng các vị thần tiên đã có dịp về đây du ngoạn. 
Xuống phía sau miếu Mẫu là một bàn cờ trên một phiến đá bằng phẳng, gọi là bàn cờ tiên. Cạnh bàn cờ tiên là dấu chân trên vách đá. Bàn chân này lớn hơn, nên được gọi là bàn chân của các Tiên Ông. 
Theo người dân sống ở đây và những người trông coi ở Miếu “Cửu Thiên Huyền Nữ” thì những vết chân đã được phát hiện từ lâu - Họ kể lại rằng: Thuở xa xưa khi đất trời còn giao lưu với nhau nơi đây núi non đẹp, cây xanh bóng mát, cảnh hạ giới mà chẳng khác gì chốn Bồng Lai. Từ trên trời cao các Tiên Ông thường dắt các Tiên Đồng, Tiên Cô xuống núi này vui đùa. Các Tiên Ông ngồi bên tảng đá đàm đạo và đánh cờ. Các Tiên Cô thì chạy nhảy tung tăng vui đùa từ tảng đá này sang tảng đá khác và để lại các dấu chân trên đá cho đến bay giờ. 

DINH BÀ CỐ BÀ RỊA VŨNG TÀU

Từ Vũng Tàu theo quốc lộ 51 về hướng Thành phố Hồ Chí Minh, tới ngã ba rẽ vào thị xã Bà Rịa, theo hướng tay trái đi về phía Long Hải khoảng 3 km nhìn sang phía tay trái sẽ thấy một ngọn núi nhỏ nằm giữa cánh đồng xã Tam An. Trên đỉnh núi có một ngôi nhà, nhìn từ xa lại giống như một chiếc nón khổng lồ úp xuống thảm cỏ xanh; đó chính là Dinh Bà Cố trên đỉnh núi Dinh Cố, còn có tên là đỉnh Cô Sơn. 
Dinh Bà Cố được xây cất trên đỉnh cao nhất của núi Dinh Cố thuộc địa phận xã Tam An, huyện Long Đất tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. 
Dinh Bà Cố không lớn, được xây dựng vào năm Kỷ Dậu (1789), lúc đầu chỉ là những căn nhà lá. Qua nhiều lần trùng tu rồi lại bị chiến tranh tàn phá mãi cho đến năm 1989 Dinh Bà Cố mới được tu sửa hoàn chỉnh như ngày nay. 
Từ chân núi Dinh Cố du khách leo lên một dốc bậc thang đá 220 bậc với chiều dài 80 mét sẽ tới Dinh. Từ đây du khách có dịp ngắm nhìn toàn cảnh cánh đồng lúa của quê hương Đất Đỏ anh hùng, và toàn cảnh thị xã Bà Rịa, hít thở bầu không khí trong lành trong cảnh sơn thủy hữu tình và nghe kể chuyện về một người phụ nữ Việt Nam hiển linh luôn cứu giúp dân lành nhất là với đồng bào ngư dân miền biển. 
Thăm Dinh Bà Cố, thăm một thắng cảnh đẹp ở vùng Long Đất. 

DINH CÔ BÀ RỊA VŨNG TÀU


Dinh cô là di tích xây dựng trên sườn núi Thùy Vân, hướng ra biển. Đây là trung tâm văn hóa tín ngưỡng của nhân dân Long Hải nói riêng và ngư dân Miền Nam nói chung. Dinh cô là nơi thờ một cô gái, theo tương truyền bị tử nạn trong một trận bão, thường linh hiển báo ứng cho những người dân những điều lành dữ, diệt trừ bệnh tật. Cô còn được tôn xưng là “Long Hải Thần Nữ Bảo An Chánh Trực Nương Nương”. 
Cảnh quan ở Dinh Cô tươi đẹp và thơ mộng, ven sườn núi là cánh rừng xanh ngát, những gộp đá đủ mọi hình thù. Phía dưới là bãi cát vàng hình bán nguyệt bãi tắm lý tưởng. Trong Dinh có các tượng Rồng, Hổ, Tứ Linh, hoành phi câu đối đắp nổi sơn phết rực rỡ. Ngoài 7 bàn thờ nơi thánh điện, còn có các miếu thờ Bà Hỏa Tinh Thánh Mẫu, Quan Thánh, Bàn Thiên, Bàn Mẫu, Quan Thế Âm Bồ Tát… 

CỬA BIỂN LỘC AN BÀ RỊA VŨNG TÀU


Từ Vũng Tàu, theo quốc lộ 51B đến Bà Rịa, rẽ vào lối đi Long Hải, đến thị trấn Long Hải, gặp ngã ba, đi về phía tay trái khoảng 10km gặp ngã tư Xuyên Mộc – Long Đất – Long Hải - Lộc An. Như vậy nếu tính từ Vũng Tàu đến cửa biển Lộc An, du khách phảI đi 50km đường bộ. Đường tốt cảnh hai bên đường rất đẹp. Khi đi ngang qua khu căn cứ Minh Đạm, nếu đúng dịp lễ Giáng Sinh và Năm mới du khách sẽ được chứng kiến cảnh đẹp của rừng cây Anh Đào. Đúng mùa rừng cây Anh Đào bạt ngàn thi nhau đua sắc hoa mà nhiều người cứ ngỡ loài hoa này chỉ có ở xứ sở đất nước Phù Tang. Hoa đủ màu: trắng tinh, trắng xanh, hơi tím và hơi vàng. Hoa tràn ra hai bên đường như vẫy gọi, như chào mời làm cho du khách quên đi nỗi mỏi mệt của đường xa, để tha hồ mà tưởng tượng theo suy nghĩ riêng của mỗI người. 
Đường từ ngã tư đến Lộc An rất đẹp, Hai bên đường là rừng cây chạy dài tớI cửa biển. TạI đây du khách có dịp đến thăm chợ cá Lộc An. Chứng kiến từng đoàn ghe thuyền của ngư dân ra vào, neo đậu ở cửa biển, ghi lại những hình ảnh lao động cần cù của ngư dân… 
Cửa biển Lộc An chính là điểm hẹn của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của dân tộc, cửa biển Lộc An đã trở thành tuyến giao thông nối liền giữa Miền Bắc và Đông Nam Bộ. Nơi đây đã bao lần chứng kiến nghệ thuật tài tình, khéo léo của các chiến sĩ cách mạng chuyển vũ khí cho mặt trận Miền Đông Nam Bộ góp phần giành thắng lợi trong chiến dịch Bình Giã năm 1964 – 1965 và các chiến thắng ở Đồng Xoài, Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Phước Long… 
Ngày nay, trở lại cửa biển Lộc An thăm lại di tích lịch sử - nơi đã từng ghi dấu bao chiến công oanh liệt của quân và dân Bà Rịa – Vũng Tàu trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để nhớ lại một thời đầy oanh liệt của dân tộc Việt Nam. 

CHÙA CỔ LONG BÀN BÀ RỊA VŨNG TÀU


Chùa cổ Long Bàn nằm ở thôn Long Phượng, thị trấn Long Điền, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, là một trong những ngôi chùa được xếp hạng di tích và cũng là một trong số những ngôi chùa cổ nhất của Bà Rịa – Vũng Tàu. 
Long Bàn có nghĩa là Thịnh vượng vững bền như đá. Chùa được xây dựng vào năm 1845, theo kiểu chữ “Tam”. Mặt tiền phảI là Lầu chuông và bên trái là Lầu trống. Trước chánh điện có ngôi nhà bằng gỗ đặt tượng “Tiêu Diêu đạo sỹ” là nơi mà hàng năm vào dịp rằm tháng 7 âm lịch nhà chùa tổ chức lễ Vu lan. 
Bên trong có pho tượng Thần hộ pháp bằng gỗ cao to như người thật. Chính giữa thờ hai bàn tay bắt quyết của Đức Phật bằng gỗ chạm trổ công phu. Chánh điện rộng 230 m2, có nhiều bức hoành bằng gỗ chạm nổi các hình chim, thú hoặc mai, lan, cúc, trúc. Ở giữa thờ Đức Phật Tổ Thích Ca Mầu Ni, Phật A Di Đà, hai bên là hai bàn thờ Đức Tổ Bồ Đề Đạt Lai Đạt Ma, Quan Thánh và Thập bát La Hán. Tất cả các tượng đều cao lớn, chạm khắc công phu, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Nối liền với chánh điện là giảng đường rộng. Đây là nơi thuyết pháp về đạo phật và đăng đàn chay cúng thí. 
Mái chùa được lợp bằng ngói ống, đầu mép ngói có gờ viền bằng gốm phủ men xanh trông đẹp và rất cổ. Trên đỉnh nóc chùa có gắn tượng “Lưỡng Long Chầu Nguyệt” và các tấm phù điêu cảnh vật sơn thủy, hoa đá bằng đất nung men màu xanh. 
Phía sau là một khu nhà rộng là nơi ăn chay của các vị sư và cũng là nơi thờ cúng của các vị sư đã qua đời. 
Chùa Long Bàn là một kiến trúc nghệ thuật cổ, trang trí mỹ thuật khá độc đáo. Là điểm tham quan du lịch hấp dẫn của huyện Long Đất


SUỐI KHÓANG NÓNG BÌNH CHÂU BÀ RỊA VŨNG TÀU


Từ huyện Xuyên Mộc, theo lộ 23 đi tiếp khoảng 30 km sẽ tới khu Suối Khoáng nóng Bình Châu. Giữa ngút ngàn hơn 7.000 ha rừng nguyên sinh, rừng cấm quốc gia thì ở đây nổi lên một Bàu nước sôi với hơn 70 điểm phun nước lộ thiên. Vùng có nước nóng hoạt động rộng khoảng hơn 1 km2, gồm có nhiều hồ lớn nhỏ tạo thành các dòng chảy với lưu lượng nhỏ. Vùng hồ rộng nhất là một ao nước rộng khoảng 100 m2 với độ sâu hơn một mét, đây là điểm nóng nhất, nước lúc nào cũng sủi tăm, bốc hơi, tạo thành một nồi hơi thiên nhiên khổng lồ. Nhiệt độ tầng mặt nước khoảng 640C , đáy nước là 840C, có thể luộc chín trứng gà theo kiểu hồng đào. Những chỗ nông, nước chỉ nóng khoảng 400C – 420C, có thể ngâm chân, tay để chữa bệnh. Điều hấp dẫn, thú vị là ngay tại khu vực nước sôi này thì rừng Tràm lại vẫn xanh tươi, một loại có rễ chùm, lá cứng vẫn sống cùng năm tháng tạo nên vẽ đẹp kỳ thú của thiên nhiên. 
Thành phần hóa học của nước nóng Bình Châu được các nhà khoa học đánh giá là tốt, rất có lợi cho việc phát triển khu du lịch sinh thái kết hợp với nghỉ ngơi, chữa bệnh.

KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÌNH CHÂU - PHỨƠC BỬU


Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu được thành lập vào năm 1984, thuộc địa bàn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đây là một khu rừng tự nhiên ven biển duy nhất còn lạI ở Miền Đông Nam Bộ có giá trị về nhiều mặt. Trong khu bảo tồn có nhiều loài động vật hoang dã, quý hiếm đã được liệt kê vào Sách Đỏ của thế giới.
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu có diện tích 11.392 héc ta (không kể diện tích vùng đệm), trong đó có 7.224 héc ta đất có rừng, còn lạI là đất trồng cây công nghiệp và đất trống. Trong khu bảo tồn thiên nhiên này còn có mặt 661 loài thực vật thuộc 408 chi, 113 họ vớI các loài thực vật khác nhau, và 178 loài động vật có xương sống, gồm các lớp lưỡng thê, bò sát, chim và thú. Đây là một trong rất ít các khu bảo tồn trên Thế giớI còn tồn tại nhiều loài động vật quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ như Báo Hoa Mai, Gấu Chó, Khỉ đuôi lợn, Voọc xám, Hoẵng, Trút, Trăn Gấm và Rùa vàng… Đặt biệt ở đây còn có loài Gà Lôi hông tía. 
Gà Lôi hông tía có tên khoa học là Lophuradiadri, thuộc loài chim quý, họ Trĩ, có cánh tròn ngắn nên bay thấp vớI cự ly ngắn. Chân màu đỏ dài 50 đến 70 mm giúp chúng có thể chạy nhanh trên mặt đất. Chân con trống có cựa dài 15 đến 20 mm màu trắng ngà. Đặc biệt chúng có tiếng kêu rất đặc trưng và dễ nhận biết. 
Gà Lôi hông tía sống theo chế độ đa thê, và phân biệt giớI tính rõ ràng. Gà Lôi trống nặng khoảng 1,5 đến 2 kg, có màu xanh lam đậm, hơi ánh kim, mào là một chùm lông đen dài 30 đến 35 mm, da mặt màu đỏ sẫm, mỏ vàng thẫm, lông cánh màu lam có vằn đen, lưng màu hung đỏ, đuôi màu đen và có ánh kim nổI bật dài 220 đến 250 mm. Gà Lôi mái nặng khoảng 1,2 đến 1,5 kg ở tuổI trưởng thành. Lông màu nâu sẫm vằn trắng vắt ngang, mỏ màu đen chì, má có màu đỏ tươi, lông đuôi dài chừng120 đến 140mm. 
Hoạt động của Gà Lôi hông tía thường rất nề nếp, tuy nhiên vẫn có sự tranh giành nhau về phạm vi sinh sống, chỗ ngủ trên cây và bạn tình. Hiện nay trong khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu còn có khoảng 200 con Gà Lôi hông tía. 
Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu ở huyện Xuyên Mộc vừa là nơi bảo tồn, nuôi dưỡng, nghiên cứu các loài động thực vật quý hiếm vừa là điểm du lịch hấp dẫn vớI những du khách yêu thích thiên nhiên. 

MIẾU BÀ PHI YẾN BÀ RỊA VŨNG TÀU


Ở gần Họng Đầm, đối diện với Hòn Bà, có ngôi Miếu Bà dựng lên để ghi công người phụ nữ can đảm dám can chúa Nguyễn Ánh đừng “cõng rắn cắn gà nhà”. Sau khi Phi Yến chết, ngôi Đền thờ Bà được dựng lên tại làng An Hải, gần thị trấn Côn Đảo. Việc xây ngôi Đền thờ Bà tại An Hải có một lý do lịch sử. 
Rằm tháng Bảy năm Ất Hợi (1785), ban hương chức làng An Hải cử đại diện qua làng Cỏ Ống rước bà về dự lễ xá tội vong nhân. Buổi lễ kéo dài đến khuya, sau đó bà nghỉ đêm trong nhà việc tại làng An Hải để ngày hôm sau về Cỏ Ống. Năm ấy Bà 24 tuổi, dung nhan còn lộng lẫy. Trong làng có tên đồ tể, tên là Biện Thi đem lòng tà dục, mò vào cấm phòng nắm lấy tay Bà. Nghe tiếng Bà tri hô, dân làng kéo đến đóng gông tên Biện Thi chờ ngày xử tội. Tuổi phận mình, Bà đã chặt đứt cánh tay bị xâm phạm rồi quyên sinh giữ trọn danh tiết. 
Tên Biện Thi được giải về làng Cỏ Ống xử tội chết. Dân làng An Hải lập Đền thờ, tạ tội với Bà, hằng năm cúng kiếng, có đủ mặt giới chức và dân làng Cỏ Ống. Từ khi Pháp chiếm Côn Đảo lập nhà tù, thường dân bị đưa về đất liền. Ngôi Đền cổ uy nghi đã hoang tàn, xiêu vẹo. Năm 1958, những công chức trên Đảo đã xin phép nhà cầm quyền, quyên góp tiền bạc và huy động sức tù xây lại ngôi Đền trên vị trí của tòa Miếu cổ. Bài vị thờ Bà đặt tại ngôi chính điện, với đôi câu đối: 
Mẫu nghi xưng hậu ấm công bang 
Thánh đắc phối thiên an hải quốc 
Hai bên tả - hữu Hoàng tử Cải và quan đô đốc Ngọc Lân, người đã can gián chúa Nguyễn xin Bà khỏi tội chết khi Ánh khép Bà vào tội thông đồng với Tây Sơn. Trên hàng cột trước cửa chùa, được khắc nổi hai câu đối: 
Trung nghĩa gián quân thiên cổ chiếu 
Tiết hạnh quyên sinh 
Ngoài Côn Đảo, gần đường lên di tích Cầu Ma Thiên Lãnh, còn có Miếu Bà Phi Yến, còn có tên gọi An Sơn Miếu, cũng được giải thích theo câu chuyện trên 

CẦU MA THIÊN LÃNH BÀ RỊA VŨNG TÀU


Từ trung tâm thị trấn Côn Đảo nếu đi bằng xe về phía tây, qua khu vườn quốc gia khoảng 3km tới một con đường nhỏ, cây cối hai bên mọc um tùm, leo hết con dốc thì tới di tích cầu Ma Thiên Lãnh, một cây cầu do người Pháp bắt các tù nhân xây dựng trên núi cao để vượt sang phía bên kia núi ( hiện nay di tích chỉ còn lại hai bên móng cầu). Cầu chưa làm xong nhưng đã có tới 356 tù nhân bỏ mạng vì đói, vì rét, và vì tai nạn. Thăm di tích này để thấy sự cùng cực của tù nhân trên “ địa ngục trần gian” Côn Đảo. 
Từ di tích cầu Ma Thiên Lãnh, du khách làm một cuộc đi bộ vượt núi, sau 45 phút sẽ tới bãi tắm Ông Đụng, nơi nổi tiếng với câu hò: 
“Ai qua Đất Thắm, Bãi Bàng, 
Hỏi thăm ông Đụng vú nàng lớn chưa” 
Vú nàng ở đây là muốn nói đến một loài ốc biển, một món ăn đặc sản của vùng này, nếu đến bãi Ông Đụng mà không thưởng thức món ốc Vú nàng thì quả là một thiếu sót. Vì thế khi được hỏi thì được đây trả lời: 
“Anh hỏi thì em xin thưa 
Vú nàng đã lớn nhưng chưa ai sờ” 
Một cách tiếp thị khá hấp dẫn, mời chào du khách ghé qua nếm thử món ốc vú nàng đặc sản Côn Đảo. 
Bãi ông Đụng rộng, nước sạch và trong xanh, cát mịn không một bóng người ở làm say lòng du khách về đây cùng vui với thiên nhiên hoang vắng. 

BẢO TÀNG CÔN ĐẢO BÀ RỊA VŨNG TÀU


Bảo tàng Côn Đảo nằm đối diện với Di tích lịch sử Cầu Tàu 914. Trước ngày giải phóng nhà Bảo tàng chích là nhà chúa đảo, được xây dựng trên một khu đất rộng khoảng hai héc ta.Trước kia, đây là nơi làm việc của 53 đời chúa đảo, khét tiếng tàn ác, nơi tập trung cao nhất quyền lực trên đảo, cả về hành chính, tư pháp và quân sự. Ngày nay nhà chúa đảo đã được sử dụng là nhà bảo tàng Côn Đảo. 
Tại nhà Bảo tàng du khách sẽ nghe giới thiệu trên sa bàn khái quát về Côn Đảo, sau đó lần lượt tham quan các hình ảnh, hiện vật trưng bày tố cáo tội ác dã man qua hai chế độ cai trị của chính quyền Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ cùng với chính quyền tay sai của chúng. Những hình ảnh, chân dung các chiến sỹ tù chính trị ở Côn Đảo, những hình ảnh về cuộc đấu thanh kiên cường, bất khuất của các chiến sỹ cách mạng, những tù nhân bị giam cầm trong một chế độ nhà tù hết sức hà khắc mà không còn từ ngữ nào có thể diễn tả nổi. Tại đây cũng được chứng kiến các tư liệu bản án kết án tử hình nhiều chiến sỹ cộng sản trong đó có nữ liệt sỹ anh hùng Võ Thị Sáu. 
Cũng tại đây du khách được nghe giới thiệu về “địa ngục trần gian” mà Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ đã giành cho các tù chính trị. Thông qua các hình ảnh các Banh 1, Banh 2, Banh 7, Chuồng Cọp, Chuồng Bò… Vừa thăm, vừa nghe giới thiệu để có dịp hiểu biết thêm về những tấm gương kiên trinh với cách mạng của những người yêu nước, những chiến sỹ cộng sản đã phải chịu đựng hy sinh để giành lại độc lập, tự do cho Tổ Quốc. 

THÁC XUÂN SƠN BÀ RỊA VŨNG TÀU


Thác Sông Ray còn có tên gọi là thác Xuân Sơn và nay còn có tên là thác Hòa Bình nằm trên địa phận huyện Châu Đức nhưng tiếp giáp với huyện Xuyên Mộc do đó có thể đi từ hai lối để đến với thác Xuân Sơn. 
Nếu theo đường từ Vũng Tàu qua Bà Rịa đi Long Khánh đến Ngãi Giao khi gặp Ngã tư đường Đẹp Việt Nam thì rẽ về tay phải, đi tiếp một đoạn sẽ có bảng chỉ đường về thác Xuân Sơn. Nếu đi từ hướng trung tâm huyện Xuyên Mộc tới lối rẽ đi thị trấn Phước Bửu thì rẽ tay trái sẽ đến thác. 
Thác Xuân Sơn là một điểm du lịch còn chưa được khai thác của huyện Châu Đức, trong tương lai đây sẽ là nơi nghỉ ngơi, du lịch sinh thái của du khách trong nước mà có lẽ hợp nhất là với lứa tuổi thanh niên, học sinh, sinh viên. 
Người Châu Ro ở huyện Châu Đức có câu chuyện kể về sự tích Thác sông Ray: 
Ngày xưa, có một ông già người Châu Ro tên là Klêu có sức khỏe hơn người. Một hôm, Klêu dắt chó vào rừng đi săn. Rất lạ là đi từ sáng cho đến trưa mà chẳng gặp một con thú nào. Bụng đói, chân chồn, mắt hoa, Klêu định tìm bóng mát cây rừng ngã lưng thì bỗng đâu ở phía trước đàn chó săn sủa lên dữ dội, Klêu mừng lắm, bụng bảo dạ: chắc có thú bự lắm đây. Theo thói quen của người thợ săn lành nghề, Klêu rút tên, giương ná lom khom tiến về phía bầy chó săn đang sủa, ngó bên trái, tìm bên phải nhưng thật lạ Klêu chẳng thấy có con thú nào cả. Trong lúc đó bầy chó săn càng lúc càng sủa mạnh, bực mình Klêu bèn xua bầy chó ra, thì chao ôi, có một chiếc lá to bằng bàn tay lật lên, lật xuống đều đặn như có người đang thở vậy. Để ý nhìn kỹ vào vật lạ, rồi cho thỏa chí tò mò Klêu lấy mũi tên khều thử vào chiếc lá thì tự nhiên nước ở đâu phun lên, dựng thành tháp nước khổng lồ, trắng xóa, chảy lên láng vây quanh Klêu. Còn chưa hết bàng hoàng thì Klêu đã nghe từ trong dòng nước tiếng gọi rất to: 
-Mẹ Biển! Mẹ Biển! Đưa ta về với Mẹ Biển. 
(Daq lêêng! Daq lêêng! Dop anh xi bây mây Daq lêêng). 
Klêu lặng lẽ bước đi. Lạ thay Klêu đi đến đâu nước cũng theo đến đó, Klêu đi về hướng Đông nước cũng theo đi về hướng Đông, Klêu đi về hướng Tây nước cũng theo đi về hướng Tây, Klêu phải đi vòng vèo, trèo lên, lội xuống qua những tảng đá cao nước cũng vòng vèo uốn lượn chảy theo. Thật lạ là đi như thế mà Klêu không hề thấy mỏi chân. Khi đến rừng T’Dao thì trời tối, Klêu và bầy chó săn cũng tìm chổ nghỉ đêm. Klêu leo lên tảng đá to nằm ngủ. Đàn chó vây xung quanh. Để bảo vệ Klêu, nước chảy vây quanh Klêu. 
Sợ Klêu đói, bệnh không ai đưa đi gặp Mẹ Biển, nước liền biến sức khỏe của mình thành không khí để Klêu hít thở nuôi cái bụng. 
Sáng sớm hôm sau Klêu và dòng nước tiếp tục đi về với Mẹ Biển. Đang đi quen địa hình rừng núi cao khi xuống đồng bằng phẳng phiu, nhiều đoạn Klêu phải đu dây rừng mới xuống được. Nước không đu được dây rừng, đành nhảy vực. Vực thẳm nơi nhảy nay là thác Sông Ray. 
Đi được một quãng đường nước lại gặp hai dãy núi cao ngất chắn đường. Leo không được, nước cứ chảy vòng quanh chân Klêu như kêu cứu. Klêu hiểu ý, ra lệnh cho bầy chó săn đào bới, khoét thành ngách nhỏ rồi bảo nước dùng lưỡi liếm mạnh, cuối cùng trổ được kẽm sâu, nước chảy ào xuống vực. Kẽm đó nay vẫn còn tại xã Xuân Sơn, huyện Châu Đức. Trong dân gian Châu Ro còn truyền lại phương ngữ nói về sự tích này: 
Klêupõh phoong 
T’lung zoong vôq r’waiq… 
Nghĩa là : Sông Ray chảy ngọn (dòng) 
Vực thẩm đầu con voi. 
Đi hai ngày ngủ một đêm, ngủ một đêm đi hai ngày thì Klêu đưa Sông Ray về gặp Mẹ Biển tại cửa Lộc An. Khi đến cửa Lộc An, Sông Ray gặp Sông Hỏa. Ai cũng giành mình đến trước. Cuối cùng Sông Ray nhường cho Sông Hỏa ra gặp Mẹ Biển trước. Vì Sông Hỏa đi trước nên nước nổi lên trên. Còn Sông Ray đi sau nước chảy chìm bên dưới. 
Ngày nay, tại cửa Lộc An, nơi Sông Hỏa và Sông Ray gặp nhau vẫn còn hai dòng nước khác biệt. 
Sau khi đã nhận hai con yêu thương về trong vòng tay lớn của Mẹ Biển cảm tạ ơn Klêu bằng cách cắt cử bầy cá Sấu đưa Klêu và bầy chó lên bờ về xứ sở. Do quá mừng ngày đoàn tụ nên khi nhảy lên bờ, bấy chó săn của Klêu đã vấy bẩn lên đầu cá Sấu, từ đó đầu cá Sấu có vết dơ như bây giờ.

CHÙA ĐẠI TÒNG LÂM BÀ RỊA VŨNG TÀU


Khu chùa Đại Tòng Lâm nằm ngay phía bên phải quốc lộ số 51 tính theo hướng từ Vũng Tàu đi thành phố Hồ Chí Minh, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 80 km. 
Chùa thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trong một khu đất rộng 100 ha. Từ năm 1958 đến năm 1960 là thời kỳ xây dựng và hoàn thành vào năm 1962. 
Qua cổng chùa, phía bên trái là khu chính để thờ Phật, tiếp sau là nơi thờ di ảnh của Hòa thượng Thích Thiện Hòa (1907 – 1978), người có công khai sơn Đại Tòng Lâm. 
Tiếp theo là khu vườn Lâm Tỳ Ni, diễn tả nơi Đức Phật sinh ra, rồi đến vườn Lộc Uyển là nơi Phật đắc đạo, thuyết pháp. Tiếp phía trong là nơi Phật viên tịch gồm hai khu tượng giống như ở chùa Thích Ca Phật Đài, đó là pho tượng Kim thân Phật tổ và pho tượng miêu tả lúc Đức Phật viên tịch. 
Tiếp tục đi sâu vào bên trong khu Đại Tòng Lâm theo một con đường cây cao bóng mát, không khí thật trong lành sảng khoái, du khách tới miếu thờ Phật Di Lặc. Qua một hồ nước, có cây cầu gọi là Đoạn Trần Kiều sẽ đến khu Đức Phật Thích Ca tĩnh tọa dưới gốc cây bồ đề. Rẽ sang phía bên trái khoảng 200 mét là tượng đài Quan Âm Bồ Tát đứng trên đầu rồng cao 12 mét. 
Tiếp tục tản bộ vào bên trong du khách sẽ có dịp thăm một ngôi chùa và cũng là một trường Phật học. Có hai khu rõ rệt; khu cho nam sinh riêng và khu nữ sinh riêng theo học khóa Phật học căn bản trong thời gian từ 3 đến 4 năm. 
Điều hấp dẫn du khách có lẽ là khu rừng cây với phong cảnh hữu tình, với các kiến trúc phong phú của đạo Phật và hồ nước thả sen với bầu không khí thật trong lành. 
Đại Tòng Lâm là điểm dừng chân của du khách trong và ngoài nước trong chuyến du lịch của mình. 

SUỐI ĐÁ
 BÀ RỊA VŨNG TÀU


Suối Đá, Suối Tiên thực sự là điểm du lịch hấp dẫn và kỳ thú. Nhiều người đã nhật xét : nơi này đúng là một Đà Lạt thứ hai. Đến khu thắng cảnh thuận lợi, dễ dàng. 
Suối Đá, Suối Tiên đề bắt nguồn từ đỉnh núi Dinh cao 491m do những dòng suối nhỏ men theo các dốc núi, sườn đồi hợp thành, chảy êm đềm uốn lượn ven rừng cây thơm ngát hương của núi rừng, đồng nội, Suối Đá, Suối Tiên chứa vẽ đẹp tự nhiên hoang sơ mà kỳ thú. 
Núi Dinh khi tới hướng Đông bổng thấp dần tạo thành hình chú voi khổng lồ nằm phủ phục chầu về phía biển. Dọc đôi bờ của những dòng suối chảy đêm ngày là muôn vàn những mõm đá mang nhiều hình thù độc đáo. 
Những chùm đá hoa cương trần trụi, bám đầy địa y xen lẫn rêu phong, có lẽ hàng ngàn năm rồi đá nằm ngủ trong rừng sâu nay bổng thức giấc. Có những hòn đá cao 3 đến 5m tạo nên hình khối sống động . Đây là hai tảng đá đứng gần nhau như hai mẹ con gặp nhau đang ngồi trò chuyện. Còn kia cảnh một hòn đá nhỏ thật giống chú bé con đang hờn dỗi với mẹ, kế đó cảnh cụ già ngồi suy ngẫm sự đời đầy trầm tư với con mắt đang thả vào cõi mông lung, xa thẳm... 
Dọc suối có những thạch bàn phẳng lì nằm nghiêng nghiêng khá rộng, bạn có thể ngồi hay nằm nghỉ khi dừng chân. Ở đây bạn nghe tiếng suối ào ạt tuôn chảy từ đỉnh thác của Suối Tiên đổ xuống, tạo thành những giếng trời khá sâu, nước trong xanh có thể nhìn rõ những hòn sỏi trắng muốt dưới đáy. 
Nước chảy xối xả, tung téo, hơi nước hòa vào không gian những hạt bụi li ti tạo nên cảm giác thật dễ chịu, từ tháng 7-8 suối cuộn mình tung bọt trắng xóa để tới tháng 10 khi bắt đầu vào mùa khô dòng suối hiền hòa trở lại. Du lịch Suối Đá, bạn nên chuẩn bị giày thể thao và một chiếc gậy nhỏ để đi dọc các bờ và vượt thác. Qua đoạn đường gập ghềnh và dốc trơn, sau khi đã thấm mệt bạn có thể dừng chân nghỉ hoặc tắm ở bên những giếng nước nhân tạo trong mát. 
Từ Suối Đá đến Suối Tiên phải vượt qua 600m đường rừng quanh co. Tương truyền ở nơi đây cây cối rậm rạp, núi rừng hoang vắng và những đêm trăng sáng các nàng tiên trên trời xuống hạ giới để du ngoạn. Qua dòng suối trong mát này các nàng tiên rủ nhau tắm mát rồi mới về trời. Hiện nay ở phía mỏm đá của núi Dinh có dấu chân thật xinh xắn in thành ngấn trên đá người ta gọi là dấu chân tiên. Có lẽ người xưa yêu cảnh trí ở nơi đây và đặt cho suối cái tên thật huyền ảo : Suối Tiên. 

LÀNG DÂN TỘC CHÂU RO BÀ RỊA VŨNG TÀU


Người Châu Ro gắn bó với đất Bà Rịa – Vũng Tàu đã từ lâu, hiện có khoảng gần 9.000 người, chiếm phần lớn số cư dân thuộc 17 dân tộc ít người của tỉnh. Họ sống trong các cụm dân cư ở Bàu Lâm (huyện Xuyên Mộc), Ngãi Giao, Kim Long, Bình Giã (huyện Châu Đức), Châu Pha (huyện Tân Thành). Du khách đến thăm các danh thắng ở các huyện Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc tìm hiểu thêm các phong tục tập quán của người Châu Ro, một trong những phong tục đó là TỤC CƯỚI CHỒNG CỦA PHỤ NỮ CHÂU RO. 
Trai gái người Châu Ro lớn lên tự đi tìm bạn đời, tự do làm quen, tự do dắt nhau đi chơi trăng và tự do ăn ở, làm lụng bên nhà gái. Theo phong tục, đến một lúc nào đó cần thiết, cha mẹ, họ hàng Nhà Gái mang một con gà trống tơ mập, một chai rượu trắng kèm theo đồ vật của người con trai như áo, khố… sang gặp cha mẹ, họ hàng nhà trai và nói bóng gió: 
-Con trâu nhà ông bà dẫm nát ruộng nhà tôi rồi, ông bà tính sao? 
Đáp lại thịnh tình nhà gái, nhà trai nói: 
-Ông Trời cột tay chân chúng nó rồi, ông bà cho con trâu nhà tôi được ăn cỏ chung với con trâu nhà ông bà. 
Thế rồi người ta ngả mâm bày cỗ, ai ăn cứ ăn, ai uống cứ uống… Người ra vào đông như bầy mối, bầy ong. Người say nằm ngủ, người chưa uống đủ cứ uống thêm… cho đến khi tàn. 
Lễ cưới chồng của người Châu Ro xưa là vậy. Từ đây người con trai chính thức là chồng của người con gái. Họ ăn ở với nhau cho đến khi sinh con đầu lòng thì cha mẹ vợ cho ra ở riêng. 
Xét về mặt hôn nhân gia đình thì đồng bào Châu Ro xưa ở vào thời kỳ Mẫu hệ, con gái đi hỏi chồng, cưới chồng, về ở nhà vợ, không có tục “dạm”, “hỏi”, “lễ cưới”, tục “mai mối”. “Ông Tơ, Bà Nguyệt”, “Thách cưới”, tục xem ngày tháng, so tuổi… 
Trong thời gian chung sống, vì một lý do nào đó như bỏ nhau vì xung khắc tính nết, chết… họ có thể “Đi bước nữa” nhưng không qua các bước như lần đầu kể trên. Nếu hai người bỏ nhau thì tài sản, kể cả bất động sản, con cái đều thuộc về người mẹ. Người cha ra đi hai bàn tay trắng. Nếu người vợ chết thì người chồng được quyền lấy chị, em của người vợ (với điều kiện những người này chưa có chồng), và ngược lại nhưng không thành luật tục bắt buộc như một số dân tộc ít người khác. 
Ngày nay, lối sống mới cũng đã được người Châu Ro tiếp nhận, tục cưới xin trước kia chỉ còn là nét đẹp truyền thống trong “kho tàng” các phong tục tập quán của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.












Thư viện ảnh
Quảng cáo
 Bản quyền © 2010